Công nghiệp khai khoáng ở Việt nam

 

 Có thể nói đây là nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia. Tuy nhiên cho đến giờ ngành công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam được đánh giá là mới chỉ phát triển ở quy mô nhỏ và dạng sơ khai bởi nhiều lý do như thiếu vốn và công nghệ, giá xuất khẩu nguyên liệu thất thường…, hầu hết khoáng sản khai thác đều chỉ được xuất khẩu dạng thô hoặc có qua chế biến nên giá trị gia tăng từ ngành công nghiệp này không cao. Khai thác khoáng sản để lại nhiều hậu quả tiêu cực về môi trường và xã hội luôn là chủ đề nóng những năm gần gây ở nhiều địa phương trong cả nước, trong đó nổi cộm là vấn đề khai thác khoáng sản lậu, xuất khẩu khoáng sản lậu. Trong khi đó những năm gần đây, đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khai khoáng ở Việt Nam đang tăng lên đáng kể.

alt

Khai thác than ở nước ngoài

Vấn đề đặt ra hiện nay là làm thế nào để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng của Việt Nam có hiệu quả nhất cho nền kinh tế, giảm thiểu rủi ro và những tác động tiêu cực tới kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường; tranh thủ được các nguồn lực từ bên ngoài, đặc biệt là công nghệ và vốn. Chuyên trang Hồ sơ sẽ góp phần đưa ra một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực này.

Nhiều vấn đề nóng

Văn phòng Đông Nam Á của Tổ chức Oxfam Mỹ vừa thực hiện một bản báo cáo về công nghiệp khai khoáng ở 5 nước thuộc Tiểu vùng Mê Kông, trong đó có Việt Nam.

Lĩnh vực khai khoáng ở khu vực Đông Nam Á thực sự mới chỉ phát triển ở quy mô nhỏ bởi ba lý do. Thứ nhất là do chiến tranh ở các nước này kéo dài từ cuối Thế chiến II đến giữa những năm 1970, và hơn nữa là các nước xã hội chủ nghĩa không chào đón các nguồn đầu tư từ phương Tây trong giai đoạn 1970-1980. Thứ hai, nguồn vốn và khả năng của các nước này hạn hẹp, trong khi chi phí để hoạt động được là rất lớn. Cuối cùng là sự bất ổn về kinh tế, đặc biệt là cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, nhiều dự án đã bị rút ra khỏi khu vực. Tuy nhiên, tín hiệu ở Việt Nam và Lào cho thấy các nhà đầu tư lớn như BHP Billiton đang dần quay trở lại.

Xu hướng hiện nay: Lệ thuộc vào thị trường Trung Quốc

Khai thác khoáng sản đang tạo ra nguồn thu đáng kể cho các nước trong khu vực, trong khi đó Trung Quốc lại là nước đang dẫn dắt về sức cầu đối với khoáng sản. Các công ty Trung Quốc có xu hướng liên doanh hoặc đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực khai thác và sản xuất trong khu vực. Các báo cáo cho thấy những công ty này đang mua lại quyền khai thác khoáng sản xây dựng nhà máy ở các nước Lào, Campuchia, Việt Nam và Miến Điện.

Lợi thế vốn có của Trung Quốc là sức tăng trưởng kinh tế nhanh và chi phí sản xuất thấp, khiến cho những nước trong khu vực như Campuchia và Việt Nam gặp không ít khó khăn khi cạnh tranh trên thị trường thế giới. Với nhu cầu nguyên liệu thô lớn của Trung Quốc đã đẩy giá của các nguồn tài nguyên lên cao. Chính lý do này khiến các nước trong khu vực xuất khẩu các nguồn tài nguyên chủ yếu là ở dạng thô mà chưa được làm tăng giá trị.

Niềm tin của các nhà đầu tư đã có phần tăng lên khi bối cảnh chính trị trong khu vực trở nên ngày càng ổn định. Tuy nhiên, tình trạng tham nhũng nhiều, sự quan liêu, năng lực yếu kém cùng với những trở ngại về luật pháp ở các nước trong khu vực, đã là rào cản đối với những nước muốn có quyền tham gia hoạt động khai khoáng. Tính cạnh tranh thấp do những quy định về thuế và hệ thống quy định phức tạp vốn không đáng tin cậy cho lắm. Việc thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực khai khoáng không phải là ưu tiên của các quốc gia Đông Nam Á, các nước này vẫn đang nỗ lực tự phát triển lĩnh vực này bằng những kế hoạch chiến lược quốc gia đầy tham vọng.

Các nước có nền kinh tế tập trung trong khu vực thường miễn cưỡng khi trao quyền khai thác tài nguyên cho các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là lý do mà hàng loạt cơ chế mới được “phát minh”, duy trì kiểm soát nhà nước. Điều này có thể thấy qua mô hình doanh nghiệp nhà nước hay công ty cổ phần của nhà nước. So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam là nước kém hấp dẫn hơn cả bởi sự cạnh tranh giữa các ngành trực thuộc Nhà nước gần như không xảy ra.

Các vấn đề đặt ra

Nghèo đói. Khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và nông thôn trong vùng hiện rất lớn, trong khi những dự án khai khoáng chỉ xuất hiện ở các vùng nông thôn vốn có mức thu nhập và sự hiểu biết hạn chế, cuối cùng những người nghèo này lại phải gánh chịu những tác động tiêu cực từ các dự án. Thực tế là không có nhiều cơ hội việc làm cho những người nghèo vốn không có chuyên môn trong lĩnh vực khai khoáng. Bản thân họ hầu như không được tham gia vào việc đánh giá tác động dự án, và gần như không có khả năng đòi hỏi bồi thường cho những thiệt hại mà họ phải gánh chịu từ dự án.

Cơ sở hạ tầng thấp kém. Đây là trở ngại đối với các nhà đầu tư, bởi muốn hoạt động khai khoáng, họ phải xây dựng hệ thống giao thông và điện.

Dịch vụ công cộng yếu, vai trò của tư nhân mờ nhạt. Ngoại trừ Thái Lan, khả năng cung cấp các dịch vụ phúc lợi xã hội của các nước trong khu vực là rất thấp, trong khi các công ty quốc tế lại thường có những cam kết phát triển bền vững khiến họ gặp không ít trở ngại. Nếu họ theo những nguyên tắc và trách nhiệm xã hội của công ty, bắt buộc họ phải có những khoản ngân sách để nâng cao dịch vụ công cộng và giảm thiểu các tác động tiêu cực từ dự án.

Tuy nhiên, ở những nước năng lực quản lý yếu kém, thì những chương trình của các doanh nghiệp đã thay thế cho các dịch vụ công và giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước; nhưng khi mỏ khai thác xong và các nhà đầu tư ra đi, ở những vùng khai thác sẽ chẳng còn gì ngoài những hậu quả về kinh tế-xã hội. Thực tế là bản thân các công ty khai khoáng cũng không thể có đủ năng lực về cả kiến thức và kỹ năng để quản lý các chương trình phát triển xã hội ở khu vực khai khoáng.

Quan hệ giữa các nhóm dân tộc thiểu số với nhà nước. Mối quan hệ giữa các nhóm dân tộc thiểu số với nhà nước trong khu vực ngày càng căng thẳng hơn khi tiếng nói của họ không được quan tâm, cùng với đó là những tác động tiêu cực từ các dự án khai khoáng. Hơn thế nữa là thực trạng về xung đột đang tăng lên giữa các nhóm dân tộc khác nhau đối với việc tiếp cận và sử dụng các nguồn tài nguyên như đất đai.

Thiếu sự tham gia của người dân, khối xã hội dân sự yếu. Những tác động tiêu cực của các dự án khai khoáng trở nên nghiêm trọng hơn khi không có sự tham gia về mặt chính trị của người dân. Theo nghiên cứu 5 nước trong khu vực, duy nhất có Thái Lan là có sự tham gia của người dân và có biểu tình phản đối. Trước những khoản thu lớn, nhà nước có xu hướng ủng hộ cho các dự án khai khoáng dưới cái bóng vì lợi ích xã hội. Vì nhiều lý do, tiếng nói của cộng đồng, báo giới và các tổ chức xã hội dân sự về những nguy cơ tiềm ẩn của khai khoáng tác động đến xã hội khó đến được với giới chức lãnh đạo.

Có thể thấy rõ trong các dự án khai khoáng người dân trong vùng dự án luôn bị thiệt thòi, việc tôn trọng quyền của cộng đồng bản địa và bảo vệ môi trường ít khi được thực hiện đầy đủ, thiếu tính đại diện của các bên liên quan ở địa phương trong một cơ chế tham vấn cộng đồng cùng với kinh nghiệm non kém của người dân trong quá trình tham gia đóng góp vào việc ra quyết định; nên các mục tiêu của các dự án khai khoáng rất dễ bị chệch hướng.

Kinh tế tăng trưởng nóng nhưng dễ vỡ. Bản chất ngắn hạn của các dự án khai khoáng có thể thấy là tạo ra mức tăng trưởng kinh tế không bền vững và sự tàn phá ghê gớm mà những cộng đồng bản địa phải gánh chịu khi mỏ đóng cửa. Dự án có thể kéo dài 3 năm hay thậm chí 30 năm, nhưng khi các mỏ đóng cửa, nhìn lại thì thấy các nguồn tài nguyên và các vốn kinh tế xã hội cùng với lợi ích của người dân địa phương đã không còn.

Sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên. Hiện nay, Campuchia là nước có mức tăng trưởng GDP phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thấp nhất trong khu vực (0,27%), còn lớn nhất là Việt Nam (tương đương 6.8%), chủ yếu là tài nguyên dạng hydrocabon. Những tác động và kết quả từ sự phụ thuộc này là: (i) sự phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế vào khai khoáng sẽ bị tách rời khỏi lĩnh vực nông nghiệp và chế tạo vốn là nguồn lợi của người nghèo; (ii) phân biệt đối xử giới tính trầm trọng hơn khi các nước phụ thuộc quá lớn vào ngành dầu mỏ, từ đó có xu hướng giảm bớt sự tham gia vào chính trị và kinh tế của phụ nữ; (iii) thuật ngữ “sự nguyền rủa của tài nguyên” sẽ được sử dụng rộng rãi hơn sau những tác động tiêu cực của các nhà máy khai khoáng được để lại; (iv) tính dễ tổn thương đối với những cú sốc thương mại và tăng doanh thu ngắn hạn khi có bất kỳ biến động nào trên thị trường toàn cầu về giá cả hàng hóa hay tiền tệ; (v) nạn tham nhũng sẽ tràn lan, nhất là đối với các nước có cơ chế quản lý yếu kém và thông tin thiếu minh bạch.

BAIMAY.VN